Skip to main content

Quy Chế Trang Phục Trưởng Công Chúa Và Công Chúa Triều Nguyễn Qua Các Thời Kỳ

 Trang phục cung đình triều Nguyễn không chỉ là quần áo mà còn là biểu tượng của thứ bậc và quyền uy. Dưới đây là chi tiết quy chế Phượng bàoThất phượng quan dành cho các bậc Trưởng Công chúa và Công chúa theo các mốc lịch sử 1808, 1824, 1833 và 1845.

1. Trang Phục Trưởng Công Chúa Triều Nguyễn

Quy chế năm 1808: Đỉnh cao của sự cầu kỳ

  • Mũ Thất phượng quan: Làm bằng lông mã vĩ trùm búi tóc sức vàng.

    • Trang sức: 7 hình phượng bay, 4 khỏa kiều vàng, 4 miếng cổ đồ, 2 đóa hoa mai, 4 hoa cúc, 7 hoa mận, 4 trâm hoa.

    • Điểm nhấn: 1 bộ trâm bạch kim xâu 120 hạt giả châu khảm 230 hạt pha lê.

  • Y phục (Phượng bào): May bằng đoạn Bát ti bóng màu hoa xích (đỏ), thêu hình phượng ổ.

  • Thường (Váy): Đoạn Bát ti bóng màu tuyết bạch thêu phượng ổ ngũ sắc xen kim tuyến.

  • Phụ kiện: Đai tre bọc đoạn bát ti sức 18 miếng vàng; tất lĩnh bát ti trắng và hài tơ xích vũ thêu phượng.

Phượng Bào

Quy chế năm 1824: Sự thay đổi về phụ kiện

Mũ và y phục
  • Mũ: Vẫn là Thất phượng quan nhưng giảm xuống còn 2 khảo kiều vàng.

  • Y phục: Giữ nguyên kiểu dáng năm 1808 nhưng thay hài bằng hia.

2. Quy Chế Trang Phục Công Chúa Triều Nguyễn

Quy chế năm 1833

  • Mũ: Đội mũ Thất phượng quan tương tự cấp bậc Trưởng Công chúa.

  • Y phục: Phượng bào màu hoa xích thêu phượng ổ ngũ sắc gia kim.

Hoa văn phượng ổ trên ó quý phi nhà Nguyễn
  • Thường: Màu tuyết bạch thêu phượng ổ ngũ sắc xen kim tuyến.

  • Phụ kiện: Đi kèm đai vàng, hia và tất.

Quy chế năm 1845: Sự xuất hiện của Ngũ phượng quan

  • Mũ Ngũ phượng quan: Hình dáng tương tự Thất phượng quan nhưng chỉ còn 5 hoa văn phượng vàng.

  • Y phục: Áo phượng bào đoạn Bát ti màu hoa xích thêu phượng ổ ngũ sắc xen kim tuyến.

  • Đai: Được sức bằng vàng và bạch kim để tăng phần sang trọng.

3. Tư Liệu Hình Ảnh Và Cổ Vật Tham Khảo

Việc phục dựng trang phục cung đình ngày nay dựa trên các nguồn tư liệu quý giá:

  • Hội họa: Tranh vẽ của họa sĩ Nguyễn Văn Nhân về hậu phi và công chúa.

  • Cổ vật: Trâm vàng hình phượng và trâm hoa mai trong bộ sưu tập của nhà sưu tầm Vũ Kim Lộc.

chiếc trâm hoa mai bằng vàng của vương phi nhà Nguyễn

chiếc trâm hoa mai bằng vàng của vương phi nhà Nguyễn
  • Phục dựng: Các mẫu Phượng bào màu đỏ được phục chế bởi nghệ nhân Nguyễn Văn Giỏi dựa trên bảo vật cung đình.

  • Hiện vật: Giày của hoàng hậu và các mẫu hoa văn phượng ổ hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế.

Giày của hoàng hậu và hậu phi nhà Nguyễn
Giày của hoàng hậu và hậu phi nhà Nguyễn

Nếu bạn yêu thích lịch sử hay trang phục cổ thì hãy đến với Dữ Liệu Việt Phục



Comments

Popular posts from this blog

Nón Lòng Chảo: Loại Nón "Quốc Dân" Trong Đời Sống Việt Nam Thế Kỷ XVIII - XIX

Bên cạnh nón lá chóp nhọn hay nón quai thao, lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX từng ghi nhận một loại nón vô cùng phổ biến mang tên nón lòng chảo . Dù hiện nay không còn xuất hiện trong đời sống thường nhật, nhưng nón lòng chảo vẫn là một minh chứng quan trọng cho tư duy thực dụng và bản sắc văn hóa của người Việt xưa qua góc nhìn của các nhà du hành phương Tây. 1. Nón Lòng Chảo là gì? Nguồn gốc tên gọi thú vị Nón lòng chảo (帽 lòng chảo) là loại nón dân gian phổ biến tại Việt Nam vào cuối thời Lê - đầu thời Nguyễn. Tên gọi này bắt nguồn từ chính hình dáng đặc thù của nó: chóp nón thấp, lõm ở giữa và vành nón rộng, tạo nên tổng thể giống như một chiếc chảo úp ngược. Trong các tư liệu Pháp ngữ thời bấy giờ, các nhà quan sát phương Tây thường mô tả loại vật dụng này bằng cụm từ “chapeau en forme de poêle” để nhấn mạnh sự khác biệt so với các loại nón khác tại Đông Nam Á. 2. Đặc điểm cấu tạo và chất liệu chế tác Mặc dù có cấu trúc đơn giản, nón lòng chảo được thiết kế để tối ưu hóa côn...

Lịch Sử Áo Dài Việt Nam: Từ Áo Giao Lĩnh Đến Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

Áo dài từ lâu đã trở thành biểu tượng bất diệt của người phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, ít ai biết rằng để có được hình hài thanh thoát như hiện nay, tà áo dài đã trải qua những đợt cải cách và mang trong mình những triết lý nhân sinh sâu sắc từ thời phong kiến. 1. Cội nguồn từ áo Giao Lĩnh và bước ngoặt năm 1744 Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tiền thân của áo dài bắt nguồn từ áo Giao Lĩnh (hay còn gọi là áo đối lĩnh). Đây là kiểu áo sơ khai nhất với hai vạt chéo nhau, thân áo dài chấm gót, được mặc cùng váy đen và thắt lưng màu. Hình ảnh người phụ nữ Việt trong trang phục áo dài giao lĩnh được ghi lại ở tài liệu của Pháp. Sự thay đổi lớn nhất diễn ra vào năm 1744, khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ban sắc dụ về trang phục để phân biệt với Đàng Ngoài. Ông yêu cầu nam nữ đều phải vận quần dài bên trong một chiếc áo lụa suông, tạo nên hình ảnh tiền thân của bộ áo dài đầu tiên. 2. Áo Tứ Thân và Áo Ngũ Thân: Sự phân tầng và đạo lý làm người Trong giai đoạn thế kỷ XVII - XIX, trang phục dân gian và ...

Triều Phục Cần Vương Tại Muang Samoyay: Những Bảo Vật Vô Giá Của Lịch Sử Việt

Những phát hiện mới về triều phục tại Muang Samoyay (Lào) đã hé lộ một chương sử bi tráng về phong trào Cần Vương. Từ chiếc Mãng bào thêu rồng chính diện đến những tấm áo gấm tinh xảo, tất cả khẳng định tinh thần: Dù trong hoàn cảnh gian khổ nhất, lễ nghi và lòng tự tôn dân tộc của người Việt vẫn luôn được giữ vững. 1. Chiếc Mãng bào thêu rồng và bí ẩn về danh tính chủ nhân Điểm nhấn quan trọng nhất trong số các hiện vật là chiếc áo gấm thêu cửu long . Theo quy chế triều Nguyễn, áo của Hoàng đế luôn lấy nền vàng làm chủ, thêu rồng lớn mặt nhìn trực diện chính giữa ngực. Chiếc áo tìm thấy tại Muang Samoyay có kết cấu tương tự: Họa tiết: Rồng lớn vắt vai đối diện trước sau, vạt dưới thêu đôi nghê (hoặc ly) chầu vào giữa, kèm theo phượng bay dưới tay áo. Chất liệu: Gấm dày màu ghi đá, mật độ sợi tơ cực cao (gần 100 sợi/1cm), khuy bằng bạc hoặc ngọc trai. Dấu tích lịch sử: Những vết sờn, miếng vá và đặc biệt là vết máu thấm từ bên trong cho thấy chủ nhân đã trải qua những cuộc chiến kh...